TIN TỨC PVC-ID

Điều chỉnh tỷ giá: 9,3% có là cao?

(VEF.VN) - “Nếu chúng ta không điều chỉnh tỷ giá sẽ tạo cơ hội cho đầu cơ, găm trữ và có khi mất cả niềm tin. Mức 9,3% cao như vậy là để bắt nhịp với biến đổi không lường của thị trường, chặn những yếu tố bất lợi”, nguyên Thống đốc NHNN Cao Sỹ Kiêm khẳng định trại bàn tròn với VEF.VN chiều 17/2.
 
Mời độc giả theo dõi Phần 1 trực tuyến: Giải pháp nào sau điều chỉnh tỷ giá.
 
Tham gia bàn tròn có chuyên gia kinh tế độc lập Bùi Kiến Thành, ông Cao Sỹ Kiêm - nguyên Thống đốc NHNN - Chủ tịch Hiệp hội DN nhỏ và vừa Việt Nam, TS. Vũ Đình Ánh, nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học thị trường giá cả (Bộ Tài chính). Đại diện Ngân hàng Nhà nước có việc bận và không thể tham gia cùng.
 
- Nhà báo Lê Vũ Phong: Thưa độc giả, việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều chỉnh tỷ giá vừa rồi là sự kiện gây chấn động người dân ngay trong đầu năm mới, nhất là với mức tăng 9,3%. Với quyết định này, NHNN tuyên bố nhằm đảm bảo tính thanh khoản, góp phần kìm chế nhập siêu và hỗ trợ việc thực thi chính sách tiền tệ. Thông điệp của Thống đốc ngân hàng cũng nói việc điều chỉnh sẽ có tính dài hạn với thị trường, với tính hai chiều có lên có xuống và phù hợp hơn với nhu cầu chung.
 
Tuy nhiên, với việc tăng tỷ giá như vừa qua, cũng nhận được nhiều sự ủng hộ của các chuyên gia, doanh nghiệp, nhận được sự đồng tình của người dân.
 
Rõ ràng, kết quả bước khởi đầu thì có vẻ thuận lợi, nhưng làm gì để sau khi điều chỉnh tỷ giá hjn chế được những tác động tiêu cực, đó là lý do chính mà chúng tôi muốn hỏi ý kiến các chuyên gia trong buổi trực tuyến về tỷ giá hôm nay.
 

Các chuyên gia tham dự bàn tròn chiều 17/2, từ trái qua: ông Cao Sỹ Kiêm, ông Bùi Kiến Thành và ông Vũ Đình Ánh. Ảnh: Lê Anh Dũng

 
Quan điểm trái chiều về con số 9,3%
 
- Vậy, quan điểm của chuyên gia về việc điều hành tỷ giá vừa qua là như thế nào? Đầu tiên xin hỏi ông Cao sỹ Kiêm, với tư cách là nguyên Thống đốc Ngân hàng và bây giờ là thành viên Hội đồng chính sách Tiền tệ quốc gia. Theo ông, vì sao có mức tăng cao như thế?
 
Ông Cao Sỹ Kiêm: Điều chỉnh tỷ giá lần này, theo tôi là cần thiết và đúng lúc. Vì diễn biến và cung cầu trên thị trường có những biến động mới, tác động nhiều mặt đến sản xuất, kinh doanh, luân chuyển ngoại tệ nên chúng ta phải điều chỉnh. Một thời gian dài chiếu cố lạm phát nên chúng ta chưa điều chỉnh theo diễn biến thị trường, 2-3 tháng chúng ta phải vít nó lại.
 
Đến nay, thị trường đã thay đổi, giá USD liên ngân hàng và trên thị trường chênh 10%. Nếu cứ để như vậy thì thị trường tiền tệ rất méo mó, luồng tiền vào ra sẽ không bình thường, tạo yếu tố đầu cơ, tù mù đối với doanh nghiệp trong việc hạch toán và dự báo chiến lược kinh doanh. Cho nên, điều chỉnh là giải pháp phù hợp.
 
Còn điều chỉnh vì sao nhiều như thế, biên độ sát thị trường như thế cũng có những lý do. Chúng ta sử dụng hai biện pháp: một là, điều chỉnh sát giá liên ngân hàng với giá thị trường tự do; hai là, cố gắng kéo sát biên độ lại. Rõ ràng, khi thị trường đã có khoảng cách 10% thì điều chỉnh 9,3% là phù hợp, còn nếu điều chỉnh tý một, tý một, trườn bò hoặc điều chỉnh nhiều lần thì sẽ gây ra khó khăn cho những lần điều chỉnh sau, cho vấn đề cung cầu và đặc biệt là thiếu lòng tin.
 
Nếu chúng ta không điều chỉnh thì tạo cơ hội cho đầu cơ, găm trữ và có khi mất cả niềm tin. Mức cao như thế là do tình hình thực tế để chúng ta bắt nhịp với những biến đổi không lường của thị trường, chặn những yếu tố bất lợi.
 
Chúng ta đã tạo thị trường như thế này rồi thì phải kiên quyết theo thị trường, phải chủ động, linh hoạt để khi có diễn biến, có thay đổi. Nhà nước cần tạo ra một công thức, cách làm nề nếp để người dân, nhất là doanh nghiệp tự đánh giá, quyết định, phán đoán cho hợp lý trong việc bố trí kinh doanh và dự phòng rủi ro về tỷ giá.
 
- Nhà báo Lê Vũ Phong: Hội đồng Tư vấn quốc gia có được tham vấn những việc này và có trách nhiệm về tỷ giá khá cao như thế này không? Ông có thể tiết lộ?
 
Ông Cao Sỹ Kiêm: Trước đây 3 tháng, chúng tôi cũng đã bàn. Khi Chính phủ chủ trương phải dừng lại để chống lạm phát thì chúng tôi cũng nghĩ ngay đến phương án chuẩn bị để điều chỉnh, với tư tưởng là phải sát thị trường nhằm tạo ra sự minh bạch, tin tưởng cho mọi đối tượng, đặc biệt là DN và người dân. Và phải chờ đến sau Tết Nguyên đán mới điều chỉnh là phù hợp nhất, do đây là điểm thuận lợi nhất về cung cầu, và cũng là thời kỳ hết hạn tuyên bố của Chính phủ! (cười).
 
- Nhà báo Lê Vũ Phong: Thưa ông Thành, sau một thời gian dài, việc điều chỉnh tỷ giá như thế này có phải là cách làm khôn ngoan không?
 
 
Ông Bùi Kiến Thành: Tất nhiên là phải điều chỉnh tỷ giá rồi, nhưng tôi rất ngạc nhiên với mức độ điều chỉnh là 9,3% như báo chí bình là vô địch từ trước đến nay. Câu hỏi là có ích lợi gì không, ích như thế nào và hại như thế nào là điều chúng ta cần phải suy nghĩ. Một người ốm thì cần phải uống thuốc, nhưng uống thuốc mạnh quá thì có khi lại ốm thêm.
 
Phải xem xét mục đích. Nếu mục đích là để tăng cung ngoại tệ thì có thể đạt được một phần nào đó, nhưng với mức giá như hiện nay là 20.693 đồng/USD thì không hẳn người ta sẵn sàng bán đâu. Còn nói điều chỉnh linh hoạt, dài hạn, có thể lên, có thể xuống và trong thời gian lâu nữa không có điều chỉnh thì hơi nguy hiểm. Liệu người dân có tin không? Vì để bảo vệ tỷ giá Việt Nam phải có lực. Chúng ta dự trữ ngoại hối được bao nhiêu? Các chuyên gia nói 10 tỷ hay 15 tỷ USD nhưng dù có bao nhiêu đi chăng nữa thì để bảo vệ tỷ giá trong thời gian dài là việc khó.
 
Nếu tăng sản lượng xuất khẩu thì tăng đến đâu? Chúng ta nhập rất nhiều rồi để xuất khẩu thì chi phí sẽ đội lên, như vậy tăng xuất khẩu được đến đâu? Mặt hàng chúng ta không có hàm lượng giá trị gia tăng nhiều thì như thế nào?
 
Tỷ giá chỉ là một phần, quan trọng là tăng nội lực của đất nước, tạo điều kiện để DN sản xuất tốt. Mặt khác, tỷ giá hiện nay đang gây khó khăn cho nhiều doanh nghiệp. Riêng tỷ giá, tôi nghĩ thời điểm điều chỉnh là phù hợp nhưng mức độ điều chỉnh hơi quá so với sự cần thiết.
 
- Nhà báo Lê Vũ Phong: Còn với góc nhìn giá cả thì ông Ánh có nhận xét như thế nào?
 
TS. Vũ Đình Ánh: Tôi chia sẻ với ý kiến của hai ông về thời điểm, lý do điều chỉnh tỷ giá. Với 9,3% đúng là con số kỷ lục từ trước đến nay trong 1 lần điều chỉnh. Có nhiều điều lý giải khác nhau. Tôi thử đưa ra phương án: Nếu chúng ta chấp nhận giá của ngân hàng thương mại xê dịch ở mức trên 21.000 đồng/USD, khi ấy tôi đưa ra hai phương án. Thứ nhất, giữ biên độ 3% và phương án đưa biên độ lên 5%.
 
Nếu duy trì biên độ +/-3% thì đồng Việt Nam phá giá khoảng 7,2%, còn chúng ta đẩy biên độ lên +/-5% thì chúng ta chỉ 5,6%. Và tôi cho rằng, để tạo ra hiệu ứng tâm lý tốt thì dường như chúng ta nên chọn phương án đẩy biên độ lên 5%. Bởi không chỉ ở Việt Nam mà nước ngoài không nhìn vào cái điều chỉnh biên độ của chúng ta là từ 3% xuống 1% mà chỉ nhìn chúng ta phá giá 9,3%. Và họ cũng không suy nghĩ là từ nay về sau Việt Nam sẽ thay đổi hẳn cách thức điều hành tỷ giá, quay trở lại cách thức chúng ta đã làm như năm 2007, tức là cứ hàng ngày chúng ta công bố một tỷ giá liên ngân hàng mà chúng ta gọi là chính thức, và dựa trên biên độ mà các ngân hàng thương mại giao dịch.
 
Những điều chúng ta làm dường như đúng về mặt kỹ thuật, đúng về lý do kinh tế tài chính. Nhưng đối với tôi, tôi cho rằng dường như con số 9,3% là hơi cao, chưa tính đến hiệu ứng tâm lý, tức là nhìn vào con số đó nước ngoài đều nói Việt Nam phá giá đồng tiền quá mạnh.
 
Cần một mặt trận hỗ trợ cùng chiều
 
- Nhà báo Lê Vũ Phong: Nhưng như đối với Ngân hàng nhà nước thì họ cho rằng đây là một thông điệp và là một cách làm mới. Thưa ông Kiêm, với kinh nghiệm của mình, ông thấy kịch bản và thông điệp đó sẽ được hiện thực hóa như thế nào?
 
 
Ông Cao Sỹ Kiêm: Tôi đã có kinh nghiệm qua nhiều năm làm công tác điều hành. Chúng ta vừa qua cố gắng ổn định chính sách tiền tệ, nhưng lại có những vấn đề cơ bản chưa được giải quyết một cách hệ thống nên đôi khi cũng phải tập trung giải quyết tình thế để chặn những tác động tức thời xảy ra. Việc điều chỉnh lần này, với mức độ như thế, thời điểm như thế, theo tôi nó có 3 thông điệp tốt có thể khai thác tốt:
 
Thứ nhất, chúng ta đang điều hành tiền tệ một cách thị trường hơn, nhất quán theo thị trường, theo cung - cầu, theo sát biên độ, rồi hứa làm thường xuyên chủ động.
 
Thứ hai, là ở Việt Nam, yếu tố tâm lý rất lớn. Nếu cứ để tự phán đoán và tự hành động thì thông tin không nhất quán và rất nguy hiểm. Cho nên, gửi đi thông điệp này cũng là cách để chúng ta giải quyết vấn đề tâm lý: rõ hơn, rành mạch hơn, nhất quán hơn.
 
Thứ ba, trước đây chúng ta bế tắc nhiều thứ nên giải quyết tình thế dễ hơn, còn đi vào giải quyết theo hướng lâu dài thì khó và phức tạp hơn.
 
Do vậy, giải quyết cả vấn đề tâm lý và thị trường giúp điều hành được tầm xa hơn, yếu tố tâm lý tốt hơn. Đó cũng là thông điệp phát đi, rằng chúng ta đã quan tâm đến những vấn đề lâu dài, tạo nền tảng để điều hành chính sách tiền tệ tiến gần với thông lệ quốc tế để giải quyết vấn đề Việt Nam.
 
Nhà báo Lê Vũ Phong: Nhưng với việc tăng lên rất cao như thế thì kịch bản về việc rút ngắn biên độ thì theo ông Ngân hàng nhà nước sẽ triển khi như thế nào?
 
Ông Cao Sỹ Kiêm: Theo tôi, trên nền tảng mà chúng ta tạo lập như thế này, có mặt bằng tương đối hợp lý rồi thì chúng ta sẽ điều hành theo nguyên tắc thị trường, theo sát và xử lý kịp thời thì sẽ không có độ chênh quá lớn. Nếu để +/-3% thì người ta sẵn sàng xê dịch, tạo tâm lý và hiện tượng không lành mạnh hoặc tạo tâm lý găm trữ USD rõ hơn. Khi đó, chúng ta giải quyết những vấn đề cụ thể này thì sẽ tạo ra chính sách tiền tệ ăn nhập hơn vào tình hình quốc tế, tính bền vững sẽ cao và tránh những cái giật cục rất nguy hiểm cho nền kinh tế, DN và tạo tâm lý không ổn.
 
Nhà báo Lê Vũ Phong: Thưa ông Thành, ông Kiêm vừa nói là điều chỉnh để hợp với thông lệ quốc tế, vậy thì thông lệ quốc tế trong đợi điều chỉnh vừa qua là cái gì và đâu là sự lựa chọn thông minh cho Việt Nam trong thời gian tới?
 
Ông Bùi Kiến Thành: Thông lệ quốc tế không quan trọng nhất với mình bây giờ, mà vấn đề là Việt Nam có biện pháp gì cho nền kinh tế vươn lên, dữ trự ngoại hối  mạnh hơn để tỷ giá được ổn định hơn. Như vậy, hãy nhìn mục đích của mình chứ không phải theo ai cả.
 
Điều chỉnh rồi thì người dân sẽ không găm đô la nữa, mọi người sẽ tung ra để bán và mua vào, và ngoại hối sẽ chảy vào Việt Nam. Vấn đề tâm lý sẽ xem chúng ta sẽ đạt được tới đâu, bởi hiện nay vẫn chưa thuyết phục được người dân tỷ giá đó là đúng. Tôi sợ rằng chúng ta không đủ lực để bảo vệ tỷ giá đó thì sẽ làm gì đây, nếu người dân cứ tiếp tục mua USD thì chúng ta có để bán không để giữ tỷ giá. Tôi lo ngại nhất chúng ta điều chỉnh hơi mạnh, tạo thêm nhiều vấn đề khác cho chúng ta cần phải giải quyết. Tôi vẫn hơi ngạc nhiên về mức điều chỉnh, nhất là về biên độ. Liệu người ta có tuân theo biên độ 1% hay không hay vẫn xé rào? Vấn đề giữa việc đưa ra mệnh lệnh và thị trường linh hoạt ta càng phải cẩn thận.
 
Ông Cao Sỹ Kiêm: Tôi thì khác ý kiến anh Thành, vì mọi chính sách đưa ra không thể có lợi cho tất cả và không phải chính sách đưa ra ngày một, ngày hai có thể kiểm nghiệm được. Đặc biệt, khi chính sách đưa ra còn phải tính đến việc đồng bộ với các chính sách khác hỗ trợ, làm cùng đồng thời như giải quyết vấn đề lạm phát, bội chi ngân sách, hệ số ICOR, nhập siêu... thì nó sẽ có điều kiện hỗ trợ trở lại, tạo thành mặt trận hỗ trợ cùng chiều.
 
Thực tế Việt Nam có rất nhiều vấn đề nên chúng ta phải giải quyết đồng bộ, nếu chỉ mổ xẻ một vấn đề thì khó thành công lắm.
 
Ông Bùi Kiến Thành: Đó là vấn đề của Việt Nam ta có đồng bộ hay không và chính sách đưa ra có đồng nhất hay không, hay là Bộ này nói thế này, Bộ kia nói thế kia. Chúng ta đang nói vấn đề tỷ giá, và chúng ta phải giải quyết đồng bộ với những vấn đề khác. Mong rằng chính sách cần đồng bộ, nhất quán để người dân dự báo được mà làm.
 
- Nhà báo Lê Vũ Phong:Còn ông Ánh, ông nghĩ sao về các giải pháp đồng bộ này?
 
 
TS. Vũ Đình Ánh: Thực ra còn nhiều câu chuyện, tôi thấy Ngân hàng nhà nước có giải thích mục tiêu này, mục tiêu khác.
 
Theo tôi, mục đích cơ bản là thu hẹp khoảng cách giữa đồng tiền chính thức và thị trường tự do, thứ hai là ngoài vấn đề chênh lệch đó thì trong hệ thống ngân hàng của chúng ta suốt từ tháng 10-11/2010 đã xuất hiện tình trạng hai giá.
 
Bản thân các ngân hàng niêm yết giá 19.500 đồng/USD nhưng rất ít hoặc hiểm giao dịch được thực hiện với giá này, mà tiệm cận gần thị trường tự do. Do vậy, hãy soi vào hai mục đích trên để xem chúng ta điều chỉnh đúng hay không.
 
Sau khi điều chỉnh, tỷ giá của chúng ta lên 20.900, theo tính toán của tôi nếu vẫn giữ biên độ 3% thì  phá giá chúng ta là 7,2%. Vậy thì nó đã thu hẹp được với thị trường tự do hay chưa?
 
Ở đây, có hai biểu hiện, một là thị trường tự do sẽ phản ứng theo kiểu đứng yên, dao động xung quanh mức 21.000 đồng thì chúng ta đạt được mục tiêu. Nhưng thị trường tự do liên tục dao động, lên mức 21.700 và hôm nay là 22.000. Không loại trừ yếu tố tâm lý, đầu cơ, nhưng rõ ràng là qua một vài ngày điều chỉnh chúng ta chưa thu hẹp được khoảng cách mà thị trường tự do thậm chí còn chạy xa hơn.
 
Nếu chúng ta chỉ điều chỉnh biên độ cũng chưa thể giải quyết được những vấn đề thực chất nền kinh tế.
 
Ông Cao Sỹ Kiêm: Tôi đặt câu hỏi thế này, nếu chúng ta điều chỉnh ngắn hạn theo kiểu trườn bò thì tình trạng chênh lệnh còn sẽ kéo dài, và khi đó hai giá cũng không thể giải quyết được, kinh tế Việt Nam sẽ như thế nào?
 
Không ai hy vọng rằng xóa bỏ hai giá được, chỉ mong trong thời gian dài chúng ta giải quyết dần dần, chứ đang hoàn cảnh khó và đang ở khoảng cách xa thế này thì cần kéo dần dần lại mới có thể thành công. Còn nếu nói điều chỉnh thấp mà ổn định, không có hai giá thì e rằng lại càng không được.
 
Tránh vấp phải những méo mó cũ
 
Nhà báo Lê Vũ Phong: Như vậy, các chuyên gia có nhiều ý kiến khác nhau nhưng đồng nhất sự điều chỉnh lần này là cần thiết và sẽ tạo ra những yếu tố tích cực. Do vậy, để có những giải pháp đồng bộ thì chúng ta cần nhận diện những nguy cơ tiếp theo có thể diễn ra để chúng ta có những giải pháp đồng bộ?
 
TS. Vũ Đình Ánh: Giả định giá giao dịch là 20.900, như nhiều người nói đây là tỷ giá hợp lý, phản ánh được giá trị đối ngoại của đồng Việt Nam chẳng hạn - tôi đơn cử như vậy. Câu chuyện sẽ là gì, đó là giảm giá đồng Việt Nam, thì có hai vấn đề nổi bật: Câu chuyện xuất nhập khẩu Việt Nam. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam hiện nay lên tới 150%, nhập siêu vào khoảng 10% GDP. Câu chuyện thứ hai là đầu tư nước ngoài, các dòng vốn vào nước ta sẽ chịu tác động rất mạnh từ điều chỉnh này. Do vậy ta phải đặt lên bàn cân để tính toán.
 
Vấn đề đặt ra: dường như có một làn sóng tăng giá theo, đó là khi ta xuất khẩu cũng phụ thuộc thị trường nước ngoài, nhập khẩu càng phụ thuộc - như lúc nãy ông Thành đã lưu ý.
 
Tôi cũng đã tiếp xúc với nhiều doanh nghiệp, họ tuyên bố chắc chắn sẽ điều chỉnh giá lên 10%, bởi thực tế các DN đã phải chịu tỷ giá 21.000 đồng không phải sau khi điều chỉnh mà từ trước đó. Do đó, lý giải vì Nhà nước điều chỉnh mà DN phải tăng giá 10% tôi cho là không thuyết phục và khó hiểu. Tuy nhiên, khi Nhà nước đã điều chỉnh tỷ giá tăng 9,3% người ta nhìn vào việc đồng Việt Nam mất giá khoảng 10% và các DN cho rằng sẽ điều chỉnh tăng giá theo. Đây là câu chuyện không mong muốn nhưng chúng ta phải giải quyết đầu tiên.
 
Tiếp đó, về mức độ lan tỏa của câu chuyện này. Khi tôi nhìn bảng giá cơ sở của Petrolimex thì khi đồng Việt Nam mất giá 7,2%, DN này cũng tính như vậy. Khi đó giá CIF tăng 6%, cộng thuế, phí thì giá cơ sở để tính tăng giá xăng là 4,5%. Câu chuyện thực sự là như vậy.
 
Hơn nữa còn liên quan đến thu hút các luồng vốn. Các nhà đầu tư rất kỳ vọng và mong muốn Việt Nam điều chỉnh tỷ giá hối đoái, nhưng bài toán là tới đây chúng ta còn điều chỉnh không và mức độ như thế nào nữa thì dòng vốn mới ổn định, không chảy ngược ra? Chính cái đó mới tạo ra điều chúng ta mong muốn xưa nay: dùng thặng dư tài khoản vốn để bù đắp cho thâm hụt cán cân vãng lai và cán cân thương mại của Việt Nam đang có xu hướng gia tăng khá mạnh, thay vì chúng ra phải bỏ dự trữ ngoại hối ra để bù đắp.
 
- Nhà báo Lê Vũ Phong: Vậy tác động tiêu cực của điều chỉnh tỷ giá lần này là như thế nào với thị trường tài chính tiền tệ? Với tư cách là Chủ tịch Hiệp hội DN vừa và nhỏ Việt Nam, ông Kiêm lo ngại nhất điều gì?
 
Ông Cao Sỹ Kiêm: Theo tôi có mặt hại, có mặt lợi. Các mặt lợi đã nói, có mặt hại là sẽ đẩy giá thành, nhất là những doanh nghiệp sử dụng nhiều nguyên liệu vật tư nhập khẩu từ nước ngoài, thì dứt khoát giá sẽ tăng lên, lợi nhuận giảm đi; hoặc những doanh nghiệp đến kỳ trả đô la. Bù lại, ta sẽ giảm được nhập siêu, tăng xuất khẩu (một số mặt hàng) và đồng Việt Nam giảm thì đầu tư nước ngoài cũng cân nhắc.
 
Việc điều hành tiếp phải chú ý 3 vấn đề: sát cung cầu thị trường để có điều chỉnh nhanh và hợp lý; có những động tác đồng bộ, tạo nên sức mạnh, tăng chất lượng kinh tế và tăng giá trị đồng tiền Việt Nam. Đồng thời, giảm lãi suất - đây cũng là yếu tố để ổn định tỷ giá. Chúng ta cũng sẽ không vấp phải những méo mó trước đó.
 
- Nhà báo Lê Vũ Phong: Vấn đề là chúng ta cần có giải pháp đồng bộ và củng cố niềm tin của doanh nghiệp và người dân. Vậy, để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô thì giải pháp là gì?
 
Ông Bùi Kiến Thành: Để có luồng vốn đầu tư tốt, Việt Nam cần chủ động đưa ra thông điệp với quốc tế, đó là việc triển khai ổn định kinh tế vĩ mô, hạn chế lạm phát. Nếu chúng ta điều chỉnh tỷ giá, ngay lập tức lạm phát tăng nhưng không điều chỉnh thực tế nó vẫn tăng. Do vậy, rõ ràng cần đưa ra mức độ điều chỉnh hợp lý vì chúng ta tăng nhiều mặt hàng khác như điện, xăng... để không ảnh hưởng tới giá tiêu dùng.
 
Hiện nhà đầu tư nước ngoài nhất thời có lợi nhưng người ta có tin tưởng ở mức đó không? Dự trữ ngoại hối của Việt Nam là như thế nào, nhỡ 2-3 tháng nữa chúng ta lại điều chỉnh thì sao?
 

TS. Vũ Đình Ánh: Hệ thống tài chính của chúng ta phải đáp ứng tình hình thực tế và xóa bỏ hai giá. Thứ hai, thị trường tự do hoành hành và có tác động lớn ở Việt Nam. Nó không phản ánh hết thị trường chính thức. Chúng ta phải tập trung được nguồn ngoại tệ và có biện pháp giải quyết bài toán đô la hóa nền kinh tế - đó là lối thoát khi thị trường chính thức không có giải pháp

Nguồn: Vietnamnet.vn